Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Các mốc lịch sử Vật lý (XIX - XX)

Bình minh của vật lí học hiện đại - Thập niên 1900
1895 Rontghen khám phá tia X
1896 Becquerel khám phá sự phóng xạ
1897 Thomson phát hiện tia catot là dòng tích điện âm (electron)
1898 Rutherford khám phá tia alpha và beta
1900 Planck đề xuất "lượng tử" như công cụ toán
1899 - 1900 Rutherford khám phá tia gamma
1902 Lenard khám phá hiệu ứng quang điện
1905 "Năm hoàng kim" của Einstein : lượng tử ánh sáng và hiệu ứng quang điện, chuyển động Brown và sự tồn tại nguyên tử, thuyết tương đối đặc biệt
1907 (1900-1907) Rutherford và Soddy nghiên cứu sự biến đổi phóng xạ của các nguyên tố
1909 Rutherford, Geiger, Marden bắt đầu thí nghiệm tán xạ alpha từ đó khám phá hạt nhân nguyên tử.
         Kamerlingh Onnes tạo ra Helium lỏng
1910 Wulf phát hiện tia vũ trụ

Những quan điểm mới về vật chất - Thập niên 1910
1911 Rutherford mô tả mô hình hạt nhân nguyên tử
         Kamerlingh Onnes phát hiện sự siêu dẫn ở thủy ngân
1912 (1911-1912) Hess đo tia vũ trụ ở độ cao lớn trong khinh khí cầu
1913 Bohr phát triển một mẫu nguyên tử giải thích quang phổ vạch của Hidro bằng cách giới hạn electron vào những mức năng lượng cho phép
         (1912-1913) Von Laue và Braggs khám phá và phát triển kĩ thuật nhiễu xạ tia X
         Stark quan sát thấy sự tách vạch phổ trong điện trường mạnh
1914 Slipher quan sát thấy sự dịch chuyển về phía xanh đỏ của quang phổ các tinh vân xoắn ốc
1915 Einstein công bố thuyết tương đối rộng
         Wegener công bố thuyết trôi dạt lục địa
1916 (1913-1916) Sommerfeld tinh chỉnh mẫu nguyên tử Bohr để giải thích sự tách phổ
1919 Hai chuyến thám hiểm chụp ảnh các vì sao trong kì nhật thực toàn phần, xác nhận tiên đoán của Einstein về không- thời gian cong
1920 Rutherford tiên đoán sự tồ tại của neutron

Cuộc cách mạng lượng tử - Thập niên 1920
1922 Thí nghiệm Stern - Gerlach tạo ra sự phân tách chùm nguyên tử Ag trong từ trường
1923 Thí nghiệm Compton chứng minh rằng ánh sáng có xung lượng và năng lượng
1924 De Broglie đề xuất vật chất giống như ánh sáng vừa có tính sóng vừa có tính hạt
1925 Goudsmit và Uhienbeck chứng minh rằng spin là nguyên nhân gây hiệu ứng Zeeman dị thường
         Pauli đề xuất nguyên lí loại trừ giải thích bản chất tuần hoàn nguyên tố
         Payne kết luận Mặt trời chủ yếu cấu tạo từ Hidro và Heli
1926 Schrodinger đề xuất mô hình hàm sóng của vật chất và phương trình tương ứng mô tả các định luật của chuyển động và cơ học cho những vật như thế
         G.P. Thomas, Davission và Garmer độc lập phát hiện tính chất kiểu sóng của electron trong tinh thể
         Các nhà vật lí bắt đầu sử dụng thuật ngữ photon cho lượng tử ánh sáng theo đề xuất của Lewis
         Goddard phóng thành công tên lửa đầu tiên
1927 Heisenberg đề xuất nguyên lí bất định
1928 Phương trình Dirac kết hợp thuyết tương đối và cơ học lượng tử cung cấp nền tảng lí thuyết cho spin và tiên đoán phản vật chất
1929 Hubble phát hiện vũ trụ đang giãn nở
1930 Pauli tiên đoán sự tồn tại neutrino
         (1930-1931) Thí nghiệm Bothe và Becker tạo ra chùm hạt trung hòa đâm xuyên bằng cách dùng hạt alpha bắn phá berylium . Joliot và Curie lặp lại thí nghiệm phát hiện rằng chùm hạt đánh bật proton ra khỏi parafin

Các hạt cơ bản và nền chính trị thế giới - Thập niên 1930
1931 Lawrence nghĩ ra và chế tạo cyclotron đầu tiên
         Chandrasekha tiên đoán sự tồn tại các lỗ đen
         Ruska và Knoll phát minh kính hiển vi điện tử
1932 Chadwick nghi ngờ, sau đó chứng minh được các thí nghiệm Bothe-Becker và Joliot-Curie đang tạo ra neutron
         Anderson phát hiện positron, hạt phản vật chất đầu tiên
         Cockroft và Walton sử dụng chùm photon năng lượng cao, là những nhà vật lí đầu tiên phá vỡ hạt nhân
1933 (1933-1934) Fermi phát triển và công bố lí thuyết phân rã beta gộp cả neutrino vào và đề xuất lực hạt nhân yếu
1934 Zwicky và Beede tiên đoán sự tồn tại của sao neutron
1935 (1934-1935) Fermi dùng những chùm neutron chậm bắn phá các nguyên tố khác nhau, tạo ra những nguyên tố tổng hợp đầu tiên, neptunium và plutonium, và đưa đến kĩ thuật phòng thí nghiệm mới gọi là phân tích hoạt hóa neutron
         Yukawa phát triển lí thuyết lực hạt nhân mạnh
1936 Anderson và Neddermeyer phát hiện một hạt trong tia vũ trụ gọi là mesotron vì khối lượng trung bình của nó (sau này mang tên muon)
1937 Kapitza quan sát thấy sự siêu cháy ở Heli lỏng
1938 Hahn và Stassman thực hiện các thí nghiệm với kết quả khác thường mà Meitner và Filsch ghi nhận là do một hiện tượng phân hạch hạt nhân chưa phát hiện
1939 Lawrence hình dung ra synchrocyclotron mặc dù nó không được chế tạo cho đến sau thế chiến thứ II
         Các nhà khoa học và chuyên gia quân sự nhìn thấy tiềm năng sản xuất vũ khí đầy sức mạnh dựa trên phản ứng dây chuyền hạt nhân
         Bethe phát triển lí thuyết các quá trình hạt nhân xảy ra bên trong những ngôi sao bình thường trong thời gian sống của chúng

Vật lí học trong thời kì chiến tranh - Thập niên 1940
1942 Feymann phát triển một dạng thức mới cho sắc động lực học lượng tử (QED)
1943 Tomonaga độc lập phát triển lí thuyết QED mới nhưng không nhận ra tầm quan trọng của nó mãi đến năm1948 khi ông đọc một bài tạp chí giải thích công trình của Lamb
1945 (1942-1945) Dự án Manhattan dẫn đến sự phát triển bom nguyên tử
1947 Lamb mô tả sự dịch chuyển vạch phổ đối với Hidro, dịch chuyển Lamb tỏ ra thiết yếu trong việc tìm hiểu QED
         Powell và Occhialini phát hiện ra các meson + và - mà Yukawa đã tiên đoán, gọi là pion
         Rachester và Butter phát hiện meson K+, K-, trung hòa, gọi chung là kaon
1948 Schwinger đưa ra khái niệm "tái chuẩn hóa" là một phương thức xử lí các vô hạn trong lí thuyết QED trước đó, cùng với Feymann đã chỉ ra được làm thế nào lí thuyết của họ giải thích được dịch chuyển Lamb, trong khi Dyson chứng tỏ rằng những phương pháp tiếp cận khác nhau của họ là tương đương
         Shockley, Brattain và Bardeen phát minh transitor
1949 Bjorkland phát hiện pion trung hòa
         (1948-1949) Gaeppert - Mayer và Jensen phát triển lí thuyết đặt cơ sở cho mô hình lớp vỏ của các mức năng lượng hạt nhân
1950 Fred Hoyle đặt ra cái tên Big Bang để chế giễu một lí thuyết vũ trụ mà ông nghi ngờ

Vật lí học và sự phát triển những công nghệ mới - Thập niên 1950
1951 Nhóm Butter tại Manchester phát hiên hạt lambda
1952 Máy tính Univac được sử dụng phân tích kết quả bầu cử tổng thống
         Quả bom khinh khí đầu tiên
         Synchrotron đầu tiên
         Buồng bọt đầu tiên
1953 Watson và Crick mô tả cấu trúc xoắn của ADN xác định bằng kĩ thuật tinh thể học tia X
1954 Radio bỏ túi đầu tiên được bày bán
         Tàu ngầm hạt nhân đầu tiên hạ thủy
         Gell-Mann và Nishijina độc lập nhau đề xuất tính chất lượng tử được bảo toàn mà Gell-Mann đặt tên là "tính lạ"
         Townes và Schawdow phát minh ra maser tiền thân dạng vi sóng của laser
1956 Cowan và Reines phát hiện neutrino và phản neutrino
1957 Bardeen, Cooper và Schieffer phát triển lí thuyết BCS của sự siêu dẫn
         Nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên
         Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên
         Năm quốc tế Vật lí địa cầu
         (1953-1957) Hoyle và đồng nghiệp phát triển lí thuyết chi tiết của sự nhiệt hạch trong các ngôi sao
1958 Nước Mĩ phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của mình
1959 Noyce và Kiby phát minh mạch tích hợp bán dẫn
         (1952-1959) Khám phá hoặc dò ra một vài baryon đầu tiên : xi trừ (1952), sigma +, - (1953), phản proton (1955), phản neutron (1956), sigma không (1956), phản lambda (1958), xi không (1959)

Kỉ nguyên chinh phục và thám hiểm - Thập niên 1960
1961 Gell-Mann công bố lí thuyết đặt cơ sở cho sự đối xứng của các tính chất của baryon (phát triển độc lập Neeman) gọi là "phương pháp gấp tám"
1962 Các neutrino muon được phát hiện tại phòng thí nghiệm Brookhaven
         Josephon mô tả hiệu ứng siêu dẫn lượng tử có tầm quan trọng công nghệ ngày nay mang tên ông
1964 Đội Brookhaven phát hiện hạt omega -, xác thực lí thuyết Gell-Mann
         Gell-Mann và Zweig độc lập đề xuất các baryon cấu tạo gồm ba hạt nhỏ hơn. Gell-Mann gọi là quark
         Higgs lí thuyết hóa sự tồn tại của một trường và các boson gọi là "trường Higgs" và "boson Higgs", cái gây ra khối lượng các hạt.
1965 Penzias và Wilson phát hiện bức xạ nền vũ trụ
1966 Nhóm Hoyle tính ra sự dồi dào He và H giữa các vì sao, kết quả ủng hộ cho lí thuyết Big Bang
1967 Davis xây dựng máy dò neutrino cỡ lớn, ở sâu trong lòng đất tại mỏ vàng Homestake, Nam Dakota
1969 Những người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng và về Trái Đất an toàn
1970 (1961-1970) Buồng tia lửa điện, phát triển tại CERN và hoàn thiện tại các phòng thí nghiệm máy gia tốc trên Thế Giới, làm tăng khả năng phát triển và đo đạc các tương tác và biến đổi hạ nguyên tử
         Glashow và học trò công bố lí thuyết thống nhất lực điện tử và lực hạt nhân yếu, tiên đoán sự tồn tại quark duyên và boson Z

Bắt đầu một sự tổng hợp mới - Thập niên 1970
1972 (1968-1972) Các thí nghiệm tán xạ tại SLAC và CERN xác nhận thành phần ba quark của các baryon
1971 Texas Instrument bán ra chiếc máy tính bỏ túi đầu tiên
1974 Richter và Ting phát hiện hạt J/Psi, hạt hạ nguyên tử đầu tiên được biết có chứa quark duyên
         Thí nghiệm Clauser xác định sự vướng víu lượng tử thật sự xảy ra
1975 Pert phát hiện ra hạt tau, thành viên nặng nhất của họ hàng lepton
1977 Lederman phát hiện upsilon, hạt hạ nguyên tử đầu tiên được biết có chứa quark đáy
         Hãng Apple giới thiệu máy Apple II khai sinh kỉ nguyên máy điện toán cá nhân
1978 Tập đoàn FONAR giới thiệu những dụng cụ ghi ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) đầu tiên
1979 Các nhà nghiên cứu tại DESY phát hiện bằng chứng thuyết phục đầu tiên của gluon
1980 (1971-1980) Các sứ mệnh vũ trụ lên Mặt trăng và đa số các hành tinh khác tiếp tục, dẫu việc hạ cánh và thám hiểm Mặt trăng của loài người kết thúc năm 1972
         Đội Alvarez lí thuyết hóa, dựa trên sự phân tích hoạt tính neutron của đá, sự tuyệt chủng hàng loạt vào cuối kỉ Creta là hậu quả vụ va chạm thiên thạch

Mở rộng tầm ảnh hưởng - Thập niên 1980
1981 Guth đề xuất lí thuyết lạm phát vũ trụ Schwars và Green đề xuất lí thuyết siêu dây
         Binnig và Robrer phát minh ra kính hiển vi quét chui hầm cho phép ghi ảnh bề mặt ở cấp độ nguyên tử
1982 Thí nghiệm Aspect xác nhận sự vướng víu lượng tử
1983 Các nhà nghiên cứu Comell phát hiện meson B trung hòa và B- những hạt đầu tiên được biết có chứa quark đáy
         Các nhà nghiên cứu CERN phát hiện boson W và X xác nhận lí thuyết thống nhất lực điện tử và lực hạt nhân yếu.
1986 (1984-1986) Nghiên cứu mở rộng về lí thuyết siêu dây là một kĩ thuật mô tả mọi hạt hạ nguyên tử và các tương tác
         Bednorz và Muller phát hiện sự siêu dẫn ở những nhiệt độ cao kỉ lục ở các chất ceramic
1987 Super-Kamiokande phát hiện các neutrino đến từ sao siêu mới 1987A
1988 Hawking cho xuất bản cuốn Lược sử thời gian
1989 Super-Kamiokande phát hiện một số nhưng không phải tất cả, neutrino Mặt trời còn thiếu

Các kết nối vũ trụ - Thập niên 1990
1991 Dự án Torus cảu liên minh châu Âu tạo ra những xung năng lượng duy trì đầu tiên phát ra từ một lò phản ứng nhiệt hạt nhân có điều khiển
1993 (1990-1993) Bắt đầu xây dựng siêu máy va chạm siêu dẫn, nhưng cuối cùng bị hủy
         (1989-1993) Vệ tinh Tàu khảo sát Nền vi sóng vũ trụ COBE thu thập dữ liệu tiết lộ cấu trúc vĩ mô của vũ trụ
1994 Sao chổi Shoemaker-Levy9 va chạm Mộc tinh, làm tăng mối lo về khả năng xảy ra tương tự đối với Trái đất
1995 Các nahf nghiên cứu Fermilab phát hiện quark top
1996 Các nhà khoa học NASA đưa ra khẳng định gây tranh cãi rằng các cấu trúc trong một thiên thạch, giải phóng từ Hỏa tinh, xác nhận rằng hành tinh trên từng có sự sống ở dạng vi khuẩn
1998 Dự án khảo sát Bầu trời số 8 Sloan bắt đầu hoạt động
1999 Phát hiện hành tinh ngoài hệ mặt trời đầu tiên
2000 Các nhà nghiên cứu Fermilab phát hiện neutrino tau
2001 (1995-2001) Lên kế hoạch và phóng tàu khảo sát vi sóng Phi đẳng hướng Wilkinson (WMAP) nghiên cứu chi tiết hơn bức xạ phát ra từ Big Bang
2002 Máy dò neutrino Sudbury xác nhận sự dao động neutrino, nhờ đó chứng thực rằng không có thế hệ tiếp theo của các hạt hạ nguyên tử, ngoài ba họ lepton, baryon, các boson chuẩn của mô hình chuẩn
2005 Các nhà Vật lí kỉ niệm "Năm Vật lí Quốc tế" nhân 100 năm "Năm huyền diệu" của Albert Einstein

Trích từ quyển Lịch sử Vật lí thế kỉ XX, Alfred B. Bortz, Ph.D., bản do Trần Nghiêm dịch trên thuvienvatly.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét