I. Phương pháp hóa
1. Hóa ướt (wet chemical)
a. Anodization
b. Lamuir
Vật liệu dùng tạo màng phân tán thành lớp màng đơn nguyên tử trên bề mặt dung môi, kết hợp phương pháp phủ nhúng và ép lớp vật liệu từ hai bên, giúp màng tạo đồng đều và đơn lớp.
c. Sol-gel
Trong phương pháp này, precusor ban đầu được phân tán đều trong dung môi tạo thành sol, qua quá trình lắng đọng tự nhiên tạo hệ gel. Từ hệ gel có thể tạo màng bằng các phương pháp phủ : spin, spray, dip.
Spin : hệ gel được nhỏ giọt lên bàn quay li tâm tạo thành màng
Spray : hệ gel được đưa vào hệ phun, phun tạo màng
Dip : đế được nhúng vào dung dịch gel, tạo thành màng
Sau quá trình phủ, màng được mang đi ủ nhiệt để tạo sự kết tinh.
d. Lithography
Phương pháp sử dụng năng lượng photon tác dụng lên các lớp phản quang, sau đó rửa bằng hóa chất, tạo các chi tiết như trên mặt nạ.
2. Hóa khô (dry chemical)
a. CVD
Hóa chất ban đầu được đưa vào buồng làm việc ở pha hơi, sau đó phản ứng tạo lớp màng trên đế.
- Thermal CVD : quá trình phản ứng được kiểm soát bằng nhiệt độ đế. Do đó nhiệt độ đế rất cao không thực hiện được với đế chịu nhiệt kém.
- PECVD : phương pháp này được tăng cường plasma, plasma có tác dụng phân ly chất khí giúp quá trình phản ứng xảy ra dễ dàng hơn. Do đó nhiệt độ phản ứng giảm, nên có thể sử dụng với đế chịu nhiệt kém.
- MOCVD : phương pháp dùng tạo màng oxit kim loại.
b. Chemical electrode
Dung dịch phân ly chứa các ion, các điện cực được sử dụng để giúp quá trình phản ứng tạo màng tạo điện cực. Trong phương pháp này, tại điện cực cathode xảy ra phản ứng khử, khử ion dương thành kim loại bám lên điện cực cathode, điện cực anode dùng cung cấp ion cho hệ điện phân bằng phản ứng oxi hóa.
Phương pháp chỉ dùng cho đế dẫn điện.
II. Phương pháp lý
1. Thủy nhiệt (hydrothermal)
Các chất tham gia phản ứng được đưa vào teplon, sau đó được nâng lên nhiệt độ và áp suất cao để tạo kết tinh.
2. PVD
a. Bốc bay (evaporation)
Nguồn vật liệu được cung cấp năng lượng làm gãy các liên kết và bay hơi tự nhiên bám lên đế.
- Thermal evaporation : năng lượng cung cấp cho đế bằng nhiệt điện trở. Không thể sử dụng với các vật liệu có nhiệt độ nóng chảy cao hơn thuyền điện trở.
- E-beam : chùm electron năng lượng cao được dùng gây nóng cục bộ và làm gãy các liên kết.
- PLD : năng lượng được cung cấp dưới dạng xung laser.
b. Phún xạ (sputtering)
Bia được cung cấp động năng từ ion khí trơ làm bức các nguyên tử trên bề mặt và bay đến đế.
- Phún xạ cathode phẳng
+ DC, RF
DC : khí trơ được gia tốc bằng dòng 1 chiều. Cường độ phún xạ cao. Bia sử dụng phải dẫn điện.
RF : hệ làm việc sử dụng nguồn điện xoay chiều với tần số cao, bia được bắn phá không chỉ bằng ion khí trơ (trong nửa chu kỳ) mà còn bằng electron (trong nửa chu kỳ tiếp theo). Bia sử dụng có thể không dẫn điện.
+ Magnetron
Với hệ magnetron tăng cường, electron được bẫy trong từ trường làm tăng xác suất ion hóa khí trơ.
Magnetron cân bằng : electron được giữ lại gần bia. Đế không bị làm nóng bởi electron, nên sử dụng được cho các đế chịu nhiệt kém.
Magnetron không cân bằng : electron hướng về đế làm đế nóng lên, làm vật liệu kết tinh ngay trong quá trình phún xạ.
- Phún xạ bằng ion beam
Chùm ion được sử dụng để bắn phá bia, nguồn ion được cung cấp từ bên ngoài, hệ có thể đạt chân không cao nên màng có độ tinh khiết cao.
Cherry Bee' Blog
Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014
Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014
Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013
Nhà khoa học của thập niên 1990 - Leon Lederman (1922-)
![]() |
| Leon Lederman vào sáng hôm trao giải Nobel Vật lí năm 1988 |
Đối với Leon Lederman sự thành công bắt đầu với một chút khôi hài. Như ông trả lời một phóng viên hồi năm 1992, khôi hài là "một kết quả gây sốc kì lạ, một điểm nút cho câu chuyện anh kể, và đó là cái thể hiện trong nghiên cứu [khoa học]". Như đa số các hồ sơ trong tập sách này nhắc tới, các nhà khoa học thành công thường không giải những bài toán khó chỉ với những kĩ năng siêu hạng. Nhiều con người lỗi lạc với những kĩ năng đó đã chẳng tìm ra một giải pháp nào. Đó là một bước ngoặc trí tuệ khác thường, khả năng nhìn thấy một vấn đề từ một góc độ khác mà trong đa số trường hợp, thường thì nó mở ra một cánh cửa trước đấy chẳng ai để ý thấy. Trong cuộc đời thành công ở nhiều cấp độ - khoa học, quản lí và dịch vụ công - Lederman luôn có sở trường tiến thẳng tới trung tâm của một vấn đề và theo đuổi một cái khác mà nó cũng có thể giải quyết.
Leon Lederman chào đời ở thành phố New York, vào ngày 15 tháng 7 năm 1922, là con thứ hai trong gia đình dân di cư Do Thái gốc Nga. Mặc dù cha mẹ ông chẳng có người nào đi học, nhưng họ xem trọng sự giáo dục và đã khích lệ Leon vào trường cao đẳng thành phố New York, nơi ông theo đuổi chuyên ngành hóa học và tốt nghiệp vào năm 1943. Sau đó, ông phục vụ ba năm trong quân đội Mĩ, nơi ông nghiên cứu về radar. Khi rời quân ngũ, ông vào trường Đại học Columbia và nghiên cứu vật lí. Việc thích nghi với trường lớp quả thật khó khăn sau khoảng thời gian phục vụ trong quân đội thời chiến, tốt nghiệp cử nhân vào năm 1948, và tiếp tục học lên tiến sĩ vào năm 1951.
Ông có một số lời mời công tác, trong đó có lời mời ở lại trường Columbia, nơi họ mới bắt đầu phát triển một chương trình về vật lí hạt cơ bản. Ông đã khởi động một số dự án thuộc lĩnh vực đó và quyết định ở lại đó trong vài ba năm để giữ tinh thần nhiệt huyết. Một vài năm đó hóa ra đã thành sự nghiệp của một đời. Phần lớn nhờ vào nghiên cứu của Lederman, trường Columbia đã trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu vật lí năng lượng cao hàng đầu thế giới. Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, ông là một phần của đội khoa học đã phát hiện ra sự vi phạm đối xứng CP trong sự phân hủy của kaon. Năm 1962, Lederman và các đồng nghiệp của ông tại Columbia đã phát triển một phương pháp tạo ra và phát hiện các muon neutrino, công trình mà nhờ đó, 26 năm sau, họ đã giành giải Nobel Vật lí.
Lederman là một trong những người nỗ lực sáng lập Fermilab, và ông bắt đầu làm việc ở đó trong khi vẫn giữ cương vị người đứng đầu Phòng thí nghiệm vật lí năng lượng cao Nev is danh tiếng của trường Columbia. Năm 1977, ông lãnh đạo đội khoa học tìm ra hạt upsilon, chứng minh sự tồn tại của quark đáy (bottom). Ông rời trường Columbia vào năm 1979 đến làm giám đốc Fermilab, chức vụ ông giữ liên tục trong 10 năm. Với vai trò giám đốc, Lederman là một lãnh đạo trời sinh. Ông sử dụng tiếng tăm hài hước cuat mình mà ông tuyên bố rằng ông không nghiêm túc cho lắm, nhưng các dự án là những công việc quan trọng và đòi hỏi sự sáng tạo nhất và làm việc cật lực nhất của mọi người.
Lederman tiếp cận nghiên cứu khoa học với đa phần kinh nghiệm giáo dục của một nhà khoa học, một nền khoa học không bao giờ ngừng lại miễn là nhà khoa học còn sống. Là một vị giáo sư, ông giảng dạy và học hỏi từ hơn 50 sinh viên. Tại Columbia, nếu ông nghỉ một học kì để dành thời gian cho công trình thực nghiệm của mình, thì khi trở lại, ông luôn giảng dạy với chương trình tăng cường và nặng tải hơn. Ông tin rằng mỗi người trẻ tuổi đáng được hưởng một nền giáo dục nghiêm túc và ông để ý thấy nhiều trường tiểu học và trung học không làm tròn bổn phận giáo dục khoa học như thế. Ông muốn làm cái gì đó cho nền giáo dục, và ông đã giành giải Nobel năm 1988 vì đã biến điều đó thành có thể.
"Tôi không muốn thấy mọi người nhìn nhận vấn đề này với sự sợ hãi như thế", ông trả lời với một phóng viên báo chí. "Tôi thật sự đã có một chút ý nghĩ thoáng qua về nó. Trên hết thảy, anh nên trở thành một chuyên gia về mọi thứ. Người ta phỏng vấn anh. "Ngài nghĩ gì về món nợ của đất nước Brazil, hay an ninh xã hội hay chiếc áo đầm của phụ nữ?" Ông nhận ra lúc này ông đã có cơ hội tốt. "Nếu anh muốn làm cái gì đó qua con đường giáo dục, hay chính sách khoa học, hay ... thay đổi các điều luật, hay làm cho mọi người tích cực lên, thì chàng trai trẻ à, việc có một giải Nobel sẽ giúp anh rất nhiều! Anh có thể tiếp cận những nơi bình thường rất khó tiếp cận".
Không chỉ có giải Nobel mở ra những cánh cửa mới đó cho Leon Lederman. Không bao lâu sau khi ông rời Columbia đến điều hành Fermilab, ông bắt đầu thấy nhớ việc giảng dạy và ông nhanh chóng tìm giải pháp trở lại tham gia vào công tác giáo dục. Ông khởi xướng một chương trình dành cho học sinh trung học gọi là chương trình Vật lí Sáng chủ nhật. Như thường lê, Lederman không chỉ giảng dạy, mà ông còn học hỏi nữa. Ông phát hiện ra rằng nhiều giáo viên không có sự chuẩn bị chu đáo để xử lí với những học sinh có năng khiếu. Ông bắt đầu nhìn vào hệ thống giáo dục hễ khi nào công việc cho phép ông có thời gian. Năm 1988, ông chuyển đến Chicago, nơi hệ thống giáo dục công lập có 400.000 học sinh, và quyết định thực hiện một sự đổi mới.
Sở trường nhìn nhận vấn đề một cách khác đi của Lederman đưa ông đến với câu hỏi này : Với rất nhiều học sinh trong hệ thống trường lớp, vì sao có ít người trong số chúng dấn thân cho khoa học? Đa số thanh niên bước vào trung học với nhiều câu hỏi, và câu hỏi vốn là bản chất của khoa học. Cái gì xảy ra với chứng trên con đường học vấn? Lederman nhận ra cái thường xảy ra, không phải cái xảy ra mà là cái không xảy ra. Có quá ít giáo viên được đào tạo toán học và khoa học, và vì thế họ chẳng biết nên làm thế nào để khích lệ học sinh. Thường thì họ thấy các câu hỏi thật đáng sợ, và họ hăm hở dập tắt trí tò mò của học sinh. Họ không phải là những giáo viên tệ, mà chỉ vì không được đào tạo tốt. Lederman tổ chức một hoạt động nhằm chứng tỏ cho các giáo viên thấy niềm vui khoa học qua một chương trình mẫu gọi là Viện hàn lâm Giáo viên. Nếu nó có tác dụng ở Chicago, thì nó cũng có tác dụng ở những thành phố khác.
Vai trò lãnh đạo của Lederman ở Viện hàn lâm Giáo viên thành công chả kém gì công việc của ông ở Fermilab, cho nên sự ảnh hưởng của ông vẫn còn tiếp tục sau khi ông không còn đảm đương trọng trách nữa. Năm 1995, sáu năm sau khi ông nghỉ hưu không làm giám đốc Fermilab nữa, các nhà khoa học Fermilab đã phát hiện ra quark đỉnh (top) tìm kiếm bấy lâu, và vào năm 2000, các nhà nghiên cứu Fermilab khác đã hoàn tất mô hình chuẩn của ngành vật lí hạt cơ bản với việc phát hiện ra neutrino tau. Sự nghiên cứu sôi nổi như vậy chỉ là một phần của sức ảnh hưởng và di sản của Leon Lederman. Tại trung tâm Khoa học Lederman và Trung tâm Tài nguyên Giáo viên của Fermilab, các tình nguyện viên và các chuyên gia vẫn đang thực hiện tầm nhìn giáo dục của ông; và trong các trường công ở nhiều thành phố Mĩ, giáo viên và học sinh đang nhìn nhận khoa học theo những phương pháp mới. Cha mẹ của ông, những người dạy ông về giá trị của sự giáo dục, hẳn là rất tự hào.
Trích từ quyển Lịch sử vật lí thế kỉ 20 của Alfred B. Bortz, Ph. D.
Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013
Nhà khoa học của thập niên 1980 - Stephen Hawking (1942-)
![]() |
| Stephen Hawking, nhà vật lí danh tiếng, tác giả quyển Lược sử thời gian |
Ngày 8 tháng 1 năm 1942, Stephen Hawking chào đời trong một bệnh viện ở Oxford, Anh quốc. Bố mẹ của ông, Frank và Isobel Hawking đã chọn Oxford làm nơi ở cho cậu con trai của họ, thay vì ở gần nhà họ ở Highgate, vùng ngoại ô phía bắc thành London, để tránh nạn Đức ném bom. Mặc dù Thế chiến thứ hai đang diễn ra, những không lực Đức và Anh đều thống nhất không ném bom các trung tâm đại học của hai phía, Oxford và Cambridge, Heidelberg và Gottingen. Cả hai nơi đó và năm tháng chào đời của Hawking đều quan trọng. Ông học đại học ở Oxford và lấy bằng tiến sĩ ở Cambridge, nơi sau này ông đảm nhận vị trí từng là chỗ của ngài Isaac Newton, người tính đến khi ấy vừa mới qua lần sinh nhật thứ 300.
Có lẽ còn trùng hợp đặc biệt hơn nữa là ngày 8 tháng 1 là ngày kỉ niệm ngày mất lần thứ 300 của Galileo Galile. Với việc hướng chiếc kính thiên văn của ông lên bầu trời, Galileo đã làm thay đổi nhận thức của loài người về những hành tinh khác và vị trí của Trái đất trong vũ trụ. Trong sự nghiệp của mình, Hawking sẽ trở thành một trong những nhà vật lí thế kỉ 20 làm thay đổi kiến thức khoa học về bản thân vũ trụ. Đối với các đồng nghiện của ông, trí tuệ lỗi lạc và các ấn phẩm khao học của Hawking là những đóng góp quan trọng nhất của ông, nhưng đối với xã hội rộng rãi hơn bên ngoài, thì Hawking nổi tiếng và được đánh giá cao với các quyển sách phổ biến khoa học của ông và với sự lạc quan không thể dập tắt của ông trước số phận bệnh tật nghiệt ngã.
Stephen nổi bật vì trí thông minh xuất chúng và tinh thần tự do tự nhiên. Cha mẹ ông đều tốt nghiệp trường Oxford, nhưng họ gặp nhau tại học viện y khoa nơi Frank đang nghiên cứu bệnh học nhiệt đới, còn Isobel thì đang làm thư kí. Họ bị xem là có phần lập dị ở St. Albans, cách London 20 dặm về phía bắc, nơi họ chuyển đến lúc Stephen lên tám. Isobel là một trí thức có mối giao tiếp xã hội rộng và nghiêng về các lực lượng chính trị cánh tả, còn Frank thì tham đạm đến mức đáng trách. Ông ít chi tiền cho việc trưng diện hoặc cho chiếc xe hơi của gia đình, một chiếc taxi London cũ ông mua với giá 50 bảng.
Trong những năm tháng trung học của Stephen tại trường St. Albans danh tiếng, ông là một học trò bình thường và không có gì xuất sắc. Ông làm tốt các bài thi hơn là bài tập ở nhà, vì ông thích xây dựng các mô hình và phát minh ra các trò chơi phức tạp hơn là làm bài tập ở nhà. Trước mắt, ông nhắm tới mục tiêu là một nhà nghiên cứu giống như cha mình. Stephen thích toán và vật lí, nhưng Frank thuyết phục ông theo học ngành hóa, cái ông xem là có tính thực tiễn hơn, so với toán học. Khi Stephen bắt đầu học thuyết tương đối, việc thiếu các khóa học toán chính thống đã gây cho ông không ít khó khăn, nhưng điều đó khiến ông có hướng suy nghĩ trực quan hơn trong các phương trình. Điều đó tỏ ra là một lợi thế lớn đối với ông khi bệnh tật ập đến và việc viết ra các biểu thức toán học ngày một trở nên khó khăn.
Hawking vào trường Oxford năm 1959, lúc 17 tuổi, vào thời điểm khi mà sự tài hoa của một sinh viên được xem là có giá trị hơn sự nỗ lực hết mình. Chỉ có các kì thi mới là quyết định, và giống như nhiều bạn học cùng lớp, ông đã thi đỗ. Ba năm sau, ông sẵn sàng tốt nghiệp. Trường Oxford có bốn mức bằng cấp, và ông được xếp giữa mức hạng nhất và hạng nhì. Ông trình bày với hội đồng xét duyệt rằng ông dự định làm nghiên cứu khoa học ở Cambridge nếu như ông tốt nghiệp hạng cao nhất, và hội đồng đã đồng ý cấp bằng hạng nhất cho ông.
Khi Hawking bắt đầu làm nghiên cứu tại Cambridge, thì thảm kịch ập đến. Ông biết ông bị mắc chứng xơ cứng cơ vận động (ALS), một chứng bệnh tấn công các cơ, cuối cùng dẫn tới bại liệt và cái chết. Đó là căn bệnh đã cướp đi mạng sống của ngôi sao bóng rỗ danh tiếng Lou Gehrig và xóa sổ cái tên Gehrig khỏi làng thể thao nước Mĩ. Dự đoán của bác sĩ là ông chỉ sống hai năm nữa thôi. Lúc đầu, Hawking thấy mình chẳng có nguyên do gì để tiếp tục dự án tiến sĩ, vì ông chẳng có thời gian để hoàn thành nó. Tuy nhiên, sự lạc quan cố hữu của ông cuối cùng đã thắng thế. Ông nhận ra rằng hễ chừng nào ông còn sống và có trí tuệ sáng suốt, ông nên sống vì một cái gì đó. Ông biết bản thân mình sẽ cần sự hỗ trợ, nhưng ông quyết định làm việc trong đa phần thời gian nào mà ông có được. Không ai giúp ông nhiêu hơn Jane Wilde, người ông gặp trong một buổi tiệc vào năm 1963, không lâu sau khi triệu chứng ALS của ông khởi phát. Bệnh tật tàn khốc không làm trở ngại con đường tình yêu, và ông cùng Jane sớm trở thành vợ chồng. Các triệu chứng ALS của ông tiến triển nhưng ở tốc độ chậm hơn nhiều so với dự đoán, và ông lấy bằng tiến sĩ vào mùa hè năm 1965. Cặp tình nhân trẻ làm lễ cưới vào tháng 7 năm đó.
Hawking xin vào làm nhà nghiên cứu vật lí lí thuyết tại Cambridge, và ông được nhận vào. Bất chấp bệnh tật hoành hành, ông và Jane vẫn cố gắng sống một cuộc sống bình thường như bao người, kể cả việc có con. Trong công việc, chẳng mất bao lâu thời gian để ông thu hút sự chú ý của các nhà vật lí danh tiếng. Ông chọn nghiên cứu các lỗ đen, đối tượng đã được tiên đoán hồi thập niên 1930 nhưng chưa bao giờ được quan sát thấy. Ông muốn hòa giải mô tả toán học của một lỗ đen, cái tiên đoán một "kì dị" mật độ vô hạn tại tâm của nó, với thế giới vật lí trong đó các kì dị là chuyện không thể. Hợp tác với Roger Penrose (1931-) thuộc trường Oxford, người có năng khiếu toán học bổ sung cho trí tuệ vật lí của ông, Hawking đã phát triển một lí thuyết mô tả cơ sở vật lí của các lỗ đen nhưng tránh được điểm kì dị.
Vào đầu thập niên 1970, các nhà thiên văn phát hiện ra một vật thể phát ra tia X nằm trong chòm sao Cygnus, và họ đặt tên cho nó là Cygnus X-1. Năm 1974, Hawking và đa số các nhah thiên văn vật lí biểu hiện 80% chắc chắn rằng vật thể đó là một lỗ đen với một ngôi sao quay xung quanh nó. Các tia X là kết quả của sự phát xạ từ chất khí của ngôi sao trên khi chúng bị hút vào trong lỗ đen và bị nung nóng lên những nhiệt độ cao khủng khiếp. Vốn ranh mãnh, Hawking đã tự cấp cho mình một "hợp đồng bảo hiểm" nếu như ông phạm sai lầm. Ông đánh cược với người bạn thân, Kip Thorne (1940-), một nhà thiên văn vật lí tại Caltech, hứa đặt mua cho Thorne một năm tạp chí Penthouse nếu Cygnus X-1 hóa ra có chứa một lỗ đen. Nếu không thì ông sẽ có miễn phí bốn năm tạp chí Private Eye của Anh. Năm 1990, mức độ chắc chắn rằng Cygnus X-1 là một lỗ đen đã tăng lên 95%, và Hawking đã thua cuộc.
Năm 1982, đối mặt trước những khoảng chi tiêu lớn cho phí chăm sóc sức khỏe của ông và tiền học phí của con ông, Hawking chuyển sang tìm nguồn thu nhập bổ sung. Ông luôn luôn thích chia sẻ nghiên cứu của mình với một cộng đồng độc giải rộng rãi hơn là chỉ với các đồng nghiệp và sinh viên của mình, và ông tin tưởng rằng ông có thể viết một quyển sách ngắn cho độc giả phổ thông, nói về các quan điểm của ông về vũ trụ. Tập sách Lược sử thời gian : từ Big Bang tới các lỗ đen đã không xuất hiện thuận lợi như ông nghĩ - nó không được xuất bản mãi tới năm 1988, nhưng sự thành công của nó đã vượt ngoài sự trông đợi lạc quan nhất của ông.
Bất chấp tình trạng bệnh tật, Hawking luôn xem cuộc sống của ông là "bình thường", ngay cả sau đợt phẫu thuật mở khí quản khẩn cấp đã cướp đi giọng nói của ông vào năm 1985. Người bình thường thỉnh thoảng hay li hôn, và Jane cùng Stephen Hawking đã li dị vào năm 1990. Ông và một trong những người y tá của mình, Elaine Mason, bỏ chồng bỏ vợ đến sống với nhau, và cuối cùng thì lấy nhau. Chồng của Elaine, David, đã thiết kế phần cứng máy tính cho chiếc xe đẩy của Hawking.
Ngày nay, Stephen Hawking vẫn đang tiếp tục nghiên cứu và viết lách. Năm 2002, trường Đại học Cambridge đã tổ chức kỉ niệm sinh nhật lần thứ 60 của ông với một hội nghị chuyên đề mang tên Tương lai của Vật lí lí thuyết và Vũ trụ học, xuất bản các bài thuyết trình dưới dạng một quyển sách, và phát chúng trên đài truyền hình BBC. Hawking chẳng đánh cược là ông còn tổ chức sinh nhật được bao nhiêu lần nữa, nhưng rõ ràng ông muốn sống lâu hơn bất kì dự đoán nào mà các bác sĩ của ông nêu ra.
Trích từ quyển Lịch sử vật lí thế kỉ 20 của Alfred B. Bortz, Ph. D.
Nhà khoa học của thập niên 1970 - Luis Alvarez (1911-1988)
Nói ngắn gọn, Luis Walter Alvarez là đa tài. Cho dù là tham gia truy tìm các hạt hạ nguyên tử, sự phòng vệ của quốc gia ông, nghiên cứu về vụ án mạng của tổng thống John F. Kennedy, tìm kiếm các căn buồng ẩn trong một kim tự tháp Ai Cập, hay khám phá và giải thích các manh mối về sự tuyệt chủng của loài khủng long trong một lớp mỏng trầm tích, "Luie" (như tên gọi hầu hết mọi người trong cộng đồng khoa học dành cho ông) có một phương pháp độc đáo để xem xét các vấn đề, cái mang lại cho ông những giải pháp hết sức sáng tạo.
Sinh ở San Francisco, ngày 13/06/1911, Luis có tổ tiên gốc gác ở Tây Ban Nha, nơi ông bà nội của ông chào đời trước khi di cư sang Los Angeles qua con đường Cuba, và Ireland là quê hương xứ sở của họ hàng truyền giáo nhà bên ngoại của ông. Cha của ông, Walter Clement Alvarez, là một bác sĩ và nhà nghiên cứu y khoa thành đạt, người đã cho phép cậu bé Luis thỏa sức khám phá các công cụ và thiết bị trong phòng thí nghiệm của ông. Năm lên 10, cậu Luis đã biết cách sử dụng toàn bộ các thiết bị nhỏ trong phòng thí nghiệm đó và có thể nối mạch điện.
Năm 1925, gia đình Alvarez chuyển đến Rochester, Minnasota, ở đó, tiến sĩ Alvarez đảm đương một chức vụ trong Bệnh viện Mayo nổi tiếng. Thời học trung học, Luis làm việc ở bệnh viện với vai trò người học nghề mùa hè trong cửa hàng thiết bị, và sau khi tốt nghiệp, ông vào Đại học Chicago, nơi ông khám phá thế giới vật lí. Ở đó, ông đã có cơ hội hiếm hoi sử dụng thiết bị và làm việc với các kĩ thuật viên của nhà vật lí huyền thoại Albert A. Michelson (1852-1931), người có những phép đo chính xác của tốc độ ánh sáng lần đầu tiên gây ra sự nghi ngờ đối với sự tồn tại của chất ete thấm đẫm vũ trụ. May mắn có một trí nhớ ngoại hạng và sự say mê đề tài nghiên cứu của nhà vật lí ấy, Alvarez đã đọc và tóm tắt mọi bài báo mà Michelson đã viết.
Trong khi vẫn còn là một sinh viên, năm 1934, Luis đã học lái máy bay và có thể tự điều khiển chỉ sau ba giờ chỉ dẫn. Kinh nghiệm trận mạc của ông đã phát huy tác dụng trong Thế chiến thứ hai và ông vẫn là một phi công tích cực cho đến năm 73 tuổi.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Chicago năm 1936, Luis Alvarez chấp thuận lời mời từ Ernest Orlando Lawrence đến tiếp tục học tại Berkeley, ở đó, cuối cùng ông đã trở thành một cán bộ giảng dạy. Các mối quan hệ gia đình đã hỗ trợ, vì cha của Alvarez đã giúp xin thêm tiền tài trợ cho một trong các cyclotron của Lawrence, và chị của ông thì làm việc cho Lawrence với vai trò thư kí ngoài giờ. Nhưng tài năng của ông nhanh chóng chứng minh cho lời mời đó. Ông đã đọc ngấu nghiến mọi bài báo viết về vật lí hạt nhân. Hàng năm sau đó, ông đã làm ngạc nhiên các nhà khoa học bởi việc tái dựng một đồ thị hay nhớ lại một sự kiện mờ mịt, và trích dẫn tham khảo gốc của các tác giả, tạp chí và năm xuất bản. Thỉnh thoảng, ông cho họ biết chính xác quyển tạp chí đó đặt tại chỗ nào trong thư viện và họ sẽ tìm thấy nội dung đó ở trang phía bên trái hay bên phải.
Nhưng không phải chỉ có trí nhớ tốt. Trong nghiên cứu của mình, Luis Alvarez quyết định thực hiện một phép đo mà Hahn Bethe nói là không thể nào thực hiện, và ông đã chứng minh Bethe sai lầm. Trong bốn năm, ông còn thực hiện một vài khám phá quan trọng khác, bao gồm sự phóng xạ của đồng vị tritium của hydrogen (số nguyên tử 3:1 proton + 2 neutron) và một dạng biến đổi phóng xạ gọi là sự bắt electron, trong đó một proton hợp nhất với một trong những eoectron trong cùng của nguyên tử tạo ra một neutron. Năm 1940,Thế chiến thứ hai đã làm gián đoạn nghiên cứu của ông về vật lí hạt nhân. Ông đến Phòng thí nghiệm Bức xạ thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), ở đó ông nghiên cứu về các hệ radar cho đến năm 1943. Ông đã phát triển hai phát minh quan trọng, một cho hệ thống đánh bom radar, và một để đánh lừa đoàn thủy thủ của tàu ngầm kẻ thù dưới mặt nước nghĩ rằng một máy bay tấn công đang bay ra xa. Sau đó, ông đến Chicago và rồi Los Alamos để sử dụng trí tuệ lỗi lạc của ông cho bài toán làm thế nào kích nổ các quả bom nguyên tử. Năm 1946, nước Anh đã tôn vinh Alvarez cho nghiên cứu của ông tại MIT.
Khi chiến tranh kết thúc, Alvarez trở lại Berkeley, nơi ông đã phát minh hoặc phát triển một vài kĩ thuật gia tốc các hạt hạ nguyên tử và phát hiện ra các sản phẩm của những tương tác năng lượng cao mang lại. Đáng chú ý nhất là một cải tiến cho kĩ thuật buồng bọt, cái mang đến sự khám phá ra nhiều hạt hạ nguyên tử và các cộng hưởng. Không có những khám phá đó, cái mang về cho ông giải thưởng Nobel vật lí 1968, Murray Gell-Mann sẽ không bao giờ có thể nghĩ ra bát đạo của ông.
Alvarez có niềm đam mê và kiến thức rộng, điều đó đưa ông đến với một vài dự án hấp dẫn sau này trong sự nghiệp của ông. Năm 1964, ủy ban nghiên cứu vụ ám sát tổng thống John F. Kennedy năm 1963 đã mời ông phân tích hình ảnh chuyển động nghiệp dư nổi tiếng của vụ bắn tỉa. Đồng thời, tiếc nuối nhu cầu của ông với kính hai tròng, ông đã phát minh ra thấu kính có tiêu cự biến thiên, cái mang đến một công ti kinh doanh thiết bị quang học hết sức thành công. Vài năm sau đó, ông đã nghĩ ra một cách sử dụng các muon tia vũ trụ để khảo sát phần bên trong của kim tự tháp Chefren tìm các món đồ bí mật. Các kết quả của ông cho thấy không có căn buồng ẩn nào, nhưng dự án vẫn thu hút sự tưởng tượng của những người nghe nói về nó.
Năm 1977, khi bước vào tuổi nghỉ hưu, Luis Alvarez bắt đầu đi chứng minh cái là công trình hấp dẫn và đáng nhớ nhất của ông. Bắt đầu từ một hòn đá mang đến cho ông như một món quà của người con trai Walter, một giáo sư địa chất học tại Berkeley. Hòn đá ấy có chứa một lớp đất sét hay trầm tích đánh dấu ranh giới giữa hai thời kì địa chất, kỉ Phấn trắng và kỉ Thứ ba. Kỉ Phấn trắng rõ ràng đã kết thúc đột ngột với sự tuyệt chủng của nhiều loài, trong đó có loài khủng long. Nhưng đột ngột như thế nào thì Walter lấy làm nghi ngờ. Phải chăng có cái gì đó trong lớp trầm tích ấy mang lại một dấu hiệu nào đó? Kiến thức của Luis về tia vũ trụ đã mang họ đến một kết quả bất ngờ và một kiến thức mới về lịch sử của sự sống trên Trái đất và vai trò mà các vụ va chạm vũ trụ có thể có đối với nó.
Richard A. Muller, một đồng nghiệp Berkeley và là một trong những người học trò thành công nhất của ông, đã viết về Luis Alvarez như sau :
Tôi luôn nhớ Luis Alvarez là một người thích suy nghĩ hơn mọi thứ khác... Chỉ một trong mười ý tưởng, ông nói, là đáng theo đuổi thôi. Chỉ một phần mười trong số này sẽ kéo dài một tháng. Chỉ một phần mười trong số đó sẽ dẫn đến một khám phá. Nếu những con số này là đúng, thì Luis phải có hàng chục nghìn ý tưởng.
Nhiều ý tưởng của Luis Alvarez - nhà khoa học đạt giải Nobel, người nhận Huy chương Khoa học quốc gia [Mĩ], và là người yên nghỉ trong nhà tưởng niệm các nhà phát minh quốc gia - đã làm thay đổi nền vật lí và làm biến chuyển thế giới.
Trích từ quyển Lịch sử vật lí thế kỉ 20 của Alfred B. Bortz, Ph. D.
Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013
Nhà khoa học của thập niên 1960 - Murray Gell-Mann (1929-)
Từ thời thơ ấu, Murray Gell-Mann đã làm lóa mắt mọi người trước sự xuất chúng của ông. Lên 3 tuổi, ông đã có thể nhân những con số lớn với nhau trong đầu mình. Lên 7 tuổi, ông đã thắng trong cuộc thi viết chính tả với một học sinh lớn hơn ông 5 tuổi. Đa số người lớn không biết nên làm gì với ông. Không biết cha mẹ ông nên nuôi một người con như vậy ra sao? Và làm sao các thầy giáo có thể chỉ bảo cho một cậu học trò có những ý tưởng mới ngay tức thì và vượt xa các bạn học đến ba bước?
Cha của Murray là một trí thức thất chí. Isidore Gellmann sinh ở Vienna, nước Áo; ông bắt đầu học triết học và toán học ở đó khi cha mẹ ông, đã di cư sang Bờ Đông Manhattan, thành phố New York, cần sự giúp đỡ của ông. Ở New York, ông lấy cái tên kém mùi Do Thái hơn là Arthur và thêm một dấu gạch nối để làm tên của ông nổi bật hơn. Ông học tiếng Anh nhanh chóng và nhận thấy khả năng ngôn ngữ của mình sẽ là tấm vé dẫn ông đến thành công. Ông lập trường Arthur Gell-Mann để dạy những người Anh di cư khác. Đó là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng Arthur là một thầy giáo nghiêm khắc và độc đoán. Học trò của ông cần học từ vựng cơ bản và cấu trúc câu để thích nghi với lối sống Mĩ, nhưng ông cứ khăng khăng giảng dạy một danh sách dài ngoằn các quy tắc ngữ pháp và thuật ngữ. Ngôi trường của ông đã không trụ nổi qua Đại Khủng Hoảng. Năm 1932, Arthur tìm được công việc tốt nhất mà ông có thể tìm, làm bảo vệ ngân hàng. Ông giữ tích cực cho đầu óc của mình bằng cách nghiên cứu thuyết tương đối của Einstein, nhưng rồi ông phải bỏ cuộc vì gia đình và cuộc sống thường nhật. Trong khi đó, vợ của ông, Pauline, bắt đầu lâm bệnh tâm thần. Trốn tránh những khó khăn trước mắt, bà thoát vào một thế giới ước mơ không có phiền muộn. Bà cười cười nói nói một cách quái đản, cho dù mọi thứ đang diễn ra không đúng xung quanh bà.
Cậu trai trẻ Murray sớm biết phải chuyển sang dựa vào người anh trai, Ben, thay vì vào cha mẹ mình. Ben, lớn hơn Murray gần 10 tuổi, là một người ham học và hai cậu con trai trở thành những người bạn đồng hành tốt của nhau. Đi thăm các bảo tàng và công viên ở thành phố New York trở thành hoạt động yêu thích của họ và khám phá các trò tiêu khiển yêu thích. Murray cũng cần được giáo dục chính thống, nhưng rõ ràng chỗ của ông không phải là một trường học bình thường. Các thầy giáo trong lớp của ông chẳng biết làm gì với ông cả. May thay, thầy giáo dạy piano của ông đã đưa cậu Murray 8 tuổi đến gặp ngài hiệu trưởng trường Columbia Grammar, một ngôi trường tư nhân giàu có ở Bờ Tây Manhattan. Ngài hiệu trưởng nhận ra các năng khiếu của cậu con trai và đã sắp xếp một xuất học bổng trọn gói. Cả bố mẹ đang quẫn trí của ông cũng nhận ra đây đúng là cái con trai họ cần, và họ đã chuyển đến một căn chung cư cùng dãy với ngôi trường trên. Đây không phải là cơ hội duy nhất mà Arthur giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn sự học hành của người con trai. Arthur đã khuyến khích sở thích toán học của Murray và can ngăn con trai thi vào khảo cổ học hay ngôn ngữ học ở trường đại học. Nhưng chủ nghĩa cầu toàn khắc khe của Arthur cuối cùng đã trở thành một gánh nặng cho Murray trong những năm tháng đại học của ông.
Tại Columbia Grammar, các bạn học của Murray và cả thầy giáo của ông không thể đuổi kịp ông. Vốn quan tâm xa rộng, ông chẳng học được gì ở đó. Có khả năng hơn, ban giám hiệu trường đã cho Murray cái ông cần để tự học, và rồi họ bước ra khỏi hành trình của ông. Ít ra thì Columbia Grammar cũng cho ông cơ hội để vào trường đại học Ivy League. Ở tuổi 15, Murray vào trường đại học Yale với một suất học bổng trọn gói, mặc dù trường này khi ấy vẫn có hạn ngạch khắt khe 10% cho sinh viên Do Thái. Mặc dù ít nhất là trẻ hơn 3 tuổi so với các bạn cùng lớp, nhưng trong khi đa phần trong số họ phải chật vật mới nắm bắt kịp chương trình mới, thì Murray nhẹ nhàng trải qua các khóa học của mình, cả về toán cao cấp và vật lí học. Rồi ông vấp phải rào cản khi đến lúc viết luận văn của mình. Ông không nhờ cố vấn của mình giúp đỡ, vì ông biết rằng ông không bao giờ có thể viết cái gì đủ tốt cho người cha yêu ngôn ngữ của mình.
Không có luận văn, ông xin việc được ở Yale và mỗi trường đại học Ivy League khác, trừ trường Harvard, không có trao học bổng. Ông miễn cưỡng chấp nhận một lời mời từ MIT, Viện Công nghệ Masachusetts. Nó đã và vẫn là một trong những chương trình đào tạo vật lí tốt nhất ở Mĩ, nhưng nó không phải là trường thuộc hệ thống Ivy League. Ông tâm sự như thế này :"Một chút suy nghĩ đã thuyết phục tôi rằng tôi có thể thử ở MIT, và rồi tự tử sau nếu như tôi muốn, chứ không còn cách nào khác".
Chương trình của MIT phù hợp tốt với ông, và ông hoàn thành luận án tiến sĩ ở đó lúc ở tuổi 21, mặc dù luận án của ông đã gặp trục trặc hoãn lại 6 tháng. Trên tiến trình đó, ông đã học được một lí thuyết có chút ít giá trị là nếu nó không phù hợp với bằng chứng quan sát hay thực nghiệm, thì ông sẽ đấu tranh cho tính đơn giản toán học trong các lí thuyết của ông hễ khi nào có thể. Đó là triết lí sau này đã đưa ông đến với các quark, và bát đạo, và giải thưởng Nobel. Ông được yêu cầu thuyết giảng khi nhận giải Nobel, nhưng một lần nữa hòn đá tảng lại xuất hiện trên đường, và ông chưa bao giờ đệ trình một bản viết nào cho bộ sưu tập Nobel.
Murray Gell-Mann luôn có sở thích rộng, cả trong khoa học và trong cuộc sống riêng tư. Trong khi làm việc tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Đại học Princeton, ông đã gặp một phụ nữ trẻ người Anh, Margaret Dow, trợ lí cho một nhà khảo cổ học ở đó. Murray vẫn thích khảo cổ học, mặc dù cha của ông ngăn không cho ông nghiên cứu nó ở trường. Và kinh nghiệm của ông ở các công viên New York biến ông thành một người quan sát chim chóc sau sưa, một sự đồng cảm mà Margaret chia sẻ. Trong một chuyến đi đáng nhớ cùng với nhau, họ đã đến một hòn đảo nằm ngoài khơi Scotland để tìm kiếm chim hải âu rụt cổ. Họ chỉ nhìn thấy một con, nhưng như thế đã là đủ. Sau đó, họ đã kết hôn vào năm 1955, và chim hải âu rụt cổ trở thành mối nhân duyên của họ.
Hôn nhân đã làm thay đổi con nguời Murray Gell-Mann. Trước khi gặp Margaret, ông thật lỗi lạc và thường đặt mình vào trong công việc nhiều hơn trong cuộc sống. Cái chết của bà vì căn bệnh ung thư vào năm 1981 đã tàn phá con người ông, và nó đến đồng thời khi ông đang vật lộn để giữ nguyên vẹn mối quan hệ của ông với người con gái đã tham gia vào những hoạt động chính trị hết sức bất hạnh. Vài năm sau đó, ông lại gặp khó khăn để giữ quan hệ với người con trai của mình.
Murray Gell-Mann tái hôn vào năm 1992 khi đang ở giữa một nhiệm vụ viết lách khó khăn khác nữa, một quyển tự truyện. Ông đã bỏ lỡ thời hạn cuối cùng, và dù với sự hỗ trợ của người vợ của ông, Marcia Southwick, ông không thể nào viết nên một bản thảo hài lòng. Nhà xuất bản cho đình chỉ dự án. May thay, một nhà xuất bản mới và sự hỗ trợ biên tập đã cho phép ông hoàn thành Hạt quark và Con báo đốm, câu chuyện của cuộc đời ông và sự nghiệp khoa học của ông, mà ông đặt tít con là Những cuộc phiêu lưu vào Thế giới đơn giản và phức tạp, năm 1994. Hiện nay, ông đã đoàn tụ với các con, và trải qua phần lớn thời gian trong một ngôi nhà thoáng đãng ở Santa Fe, New Mexico, chứa đầy các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật và sách vở.
Trích từ quyển Lịch sử vật lí thế kỉ 20 của Alfred B. Bortz, Ph. D.
Nhà khoa học của thập niên 1950 - John Bardeen (1908-1991)
![]() |
| John Bardeen, trong ảnh cùng với người cháu trai Chuck, vào năm 1968, không xem gì quan trọng hơn gia đình, mặcdù golf có lẽ một sự lựa chọn thứ hai. Ông nổi tiếng đã nhận hai giải thưởng Nobel. |
Nhưng giống như thập niên 1950 đã chuyển hướng nền vật lí vượt khỏi những đột phá lí thuyết sang những mối quan tâm thực nghiệm, thập niên trên cũng mang đến một loại cá nhân khác biệt nổi lên trong lĩnh vực trên. Nhà khoa học chính của thập niên này, John Bardeen, theo đuổi những ứng dụng công nghệ và thực tiễn hướng tới cuộc sống thường nhật. Ông không phải, như người ta nói, là "một Einstein". Thay vì vậy, ông là một thí dụ của cái mà các tác giả viết tiểu sử của ông gọi là Thiên tài đích thực, một trí tuệ đổi mới, lặng lẽ nổi bật lên hàng đầu trong số những đồng nghiệp của ông. Ông là một người trầm tính có công trình nghiên cứu về cơ học lượng tử của chất rắn đã khởi phát cuộc cách mạng bán dẫn và làm sáng tỏ cơ chế nền tảng của sự siêu dẫn.
John Bardeen sinh ở Madison, Wisconsin, vào ngày 23 tháng 5, 1908. Cha mẹ ông là những người tin tuyệt đối vào giá trị của sự giáo dục. Cha của ông, Charles Bardeen (1871-1935), là người sáng lập ra khoa Y tại trường đại học Wisconsin và là vị chủ nhiệm khoa đầu tiên. Mẹ của ông, Althea Harmer Baardeen (1875-1920), là giáo viên tại một trường thực nghiệm tiến bộ thiết lập bởi John Dewey (1859-1952), người thường được xem là một trong những nhà cải cách giáo dục vĩ đại nhất cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20. Charles và Athea cùng nhận ra và khuyến khích những khả năng ngoại hạng của John, đặc biệt là về toán học. Athea qua đời khi John mới 11 tuổi, nhưng ông đã được nuôi dạy tốt. Ông hoàn thành nhũng khóa học cần thiết của mình tại trường trung học trong trường đại học lúc ở tuổi 13, và bắt đầu tham gia nghiên cứu tại trường đại học Wisconsin năm lên 15 tuổi.
Vì ông phân vân khó chọn hướng nghiên cứu vật lí và toán học chính trước khi nghiêng về xử lí kĩ thuật điện, nên ông đã mất 5 năm để lấy bằng cử nhân vào năm 1928. Ông có thể áp dụng một số chứng chỉ bổ sung của ông để học lên thạc sĩ, và ông tiếp tục ở lại Wisconsin để hoàn tất học vấn của mình. Đề tài luận văn của ông là sử dụng các kĩ thuật điện để phát hiện ra các trầm tích dầu. Sau khi hoàn thành luận văn ở Wisconsin, ông đăng kí chương trình nghiên cứu tiến sĩ tại trường Trinity College thuộc đại học Cambrige nhưng không được chấp nhận, và ông phải ở lại một năm học thêm các khóa nữa. Sau 7 năm học tại Wisconsin, ông đã có dịp được học với một số nhà vật lí danh tiếng, bao gồm Werner Heisenberg, Paul Dirac, và Arnold Sommerfeld.
Năm 1930, John chấp thuận đảm nhận một vị trí tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu thuộc Công ti Dầu mỏ Vùng vịnh ở Pittsburgh, Pennsylvania, nghiên cứu về những kĩ thuật mới tìm kiếm dầu mỏ. Sau 3 năm, ông đã sẵn sàng trở về trường cũ. Lần này, ông đăng kí và được nhận vào một chương trình nghiên cứu tiến sĩ toán học tại trường đại học Princeton. Không lâu sau đó, ông làm việc với một số nhà vật lí lí thuyết giỏi nhất thế giới về cơ sở toán học hệ nhiều vật của các electron trong chất rắn. Khi ông hoàn thành công trình nghiên cứu vào mùa xuân năm 1935, ông biết rằng nó gây được sự chú ý của Hội đồng trường Harvard danh tiếng. Họ mời ông đến phỏng vấn và cấp cho ông một suất học bổng 3 năm nghiên cứu vật lí bắt đầu vào mùa thu năm đó. John đã có thể chia sẻ những tin tức tốt lành cùng với cha ông, Charles, lúc này đang bệnh nặng. John trở lại Madison vào tháng 5, và cha ông qua đời vào hôm 12 tháng 6. Sau lễ tang, John quay lại Princeton, viết hoàn tất luận án của ông, và trình nó cho giáo sư hướng dẫn của ông phê chuẩn.
Những năm tháng tại Harvard đã hướng John vào con đường sự nghiệp chuyên nghiệp nổi tiếng sẽ bao gồm nghiên cứu giành giải Nobel tại Phòng thí nghiệm Bell và trường đại học Illinois. Nhưng câu chuyện cuộc đời ông sẽ không hoàn chỉnh nếu không nhắc tới vợ ông, Jane (1907-1997), người đã có với ông 3 đứa con.
Vào cái đêm trước khi ông rời Pittsburgh vào năm 1933, John đã tổ chức một bữa tiệc tối tại nhà của một đồng nghiệp tại Công ti Vùng vịnh; vợ của người đồng nghiệp này có một người bạn tên là Jane Maxwell, người mà bà nghĩ John sẽ thích gặp. Cuối buổi tối hôm ấy, bà chủ nhà tốt bụng đã có thể nói rằng công việc mai mối của bà đã thành công. Ở John, Jane nhìn thấy một người đàn ông khỏe mạnh, đẹp trai với miệng cười quyến rũ. Ông chín chắn, dí dỏm, và tự tin với sự tài hoa mà ông thể hiện qua thái độ trầm lắng
của mình. John cũng bị gây ấn tượng không kém. Trên hành trình dài lái xe đến New Jersey vào ngày hôm sau, ông không thể nào dừng suy tưởng đến nhà nữ sinh học thu hút và ăn nói lưu loát kia. Ông quyết định lễ giáng sinh sẽ quay lại Pittsburgh đó là một ý kiến hay. Vì xa cách và vì công việc, nên mối quan hệ giữa họ tiến triển chậm hơn Jane mong muốn, nhưng cuối cùng thì họ cũng lấy nhau vào năm 1937 và có một cuộc sống gia đình hạnh phúc cho đến khi John qua đời vào ngày 30 tháng 1, 1991.
Trong suốt đời mình, John Bardeen luôn tìm thời gian tiêu khiển. Khi còn là một sinh viên chưa tốt nghiệp tại Wisconsin, ông đã lãnh đạo đội bơi của mình mặc dù xét về tuổi, ông trẻ hơn đa số những người bạn bơi của mình. Ông thích chơi bowling và billard, nhưng bạn bè và gia đình thì hay nhớ tới món golf điêu luyện của ông. Không bao lâu sau khi nhận giải thưởng Nobel lần thứ nhất, ông đã nhận được một trong những mục tiêu trọn đời khác nữa, đó là một suất chơi trong sân golf của trường đại học. "Ông nghĩ điều đó hầu như tuyệt vời như giải Nobel vậy", người học trò và đồng nghiệp của ông, Bob Schrieffer, nhận xét. Những năm sau này, sau khi đã nhận giải Nobel thứ 2, John nói với bạn mình rằng, "À, có lẽ hai giải Nobel thì đáng giá hơn một suất chơi golf chứ". Thật ra, những câu chuyện mà người ta nhớ tới như vậy về John Bardeen cho thấy Thiên tài Đích thực này để lại một di sản không những là thành tựu vật lí học, mà còn là một ví dụ của lối sống cân bằng giữa một con người thiên tài và một con người.
Trích từ quyển Lịch sử Vật lí thế kỉ 20 của Alfred B. Bortz, Ph. D.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





